Ngày tháng cũ càng

Gần đây, trí nhớ của tôi bắt đầu có vấn đề.
Ông nội tôi tuổi Tuất. Thì là 1874. Bà nội tôi tuổi Tý, thì là 1876. Cậu mẹ tôi tuổi Đinh Dậu thì là 1897.Như vậy thí tuổi của chú xã Ba, cô Bốn, chú Năm, cô Sáu Phẩm (và cô sáu Chước) thì là, thì là…, chú Bảy sinh năm Tuất 1910; cô Tám ,tuổi Tý …1912.
Ông nội tôi mất năm nào. Bà nội tôi bấy giờ mới là 28 tuổi (?). Chả lẽ là 1876+27 = 1913, cô Tám lên 2. Cũng còn có lý. Mẹ tôi về làm dâu bà nội tôi …năm nào. Chị hai tôi tuổi Ngọ, 1918. Đúng rồi, năm mẹ có mang chị, thì là 21 tuổi, năm 1917. Vậy thì mẹ tôi lấy câu tôi vào năm 1915. Năm đó là năm mà Cậu Tú tôi đã ngồi nhà dạy học. Câu tôi học thêm cho ‘cụ thể’ để đi Thi Hương khoa 1915. Chà chà hèn gì ‘lạc vi’ thay vì ‘lạc đệ’…Năm 1918, câu tôi ‘cúp tóc rồi’,có vợ rồi, có nhà ở Yên mô rồi, đâu có đi thi khoa chót, khoa 1918 tại Huế. Đúng rồi.
Chị hai tôi là con so, nên nhau chốn, rún cắt phải là bên quê ngoại. Anh Ba tôi, tuổi Thân, Canh Thân 1920, hẳn phải sinh ra tại Yên mô. Tuổi Tuất là anh Bốn, Tuổi Hợi là anh Năm, 1923. Mẹ sinh năm một. Chị Sáu tuổi Sửu 1925, con Trâu hèn gì …sinh con Thu cũng Trâu, nên lì lợm lắm. Chị Bả tuổi Mẹo, 1927. Năm nầy có nhiều chuyện. Nào là chuyên giặc dậy, chuyện con Bảy Thầy Mười, chuyên Chợ Yên mô, có tì tí ti Ông Tri, Bà Luận từ vài ba năm bảy năm về trước. Mẹ tôi giận câu tôi bế con Xi về ngoại. Năm sau, Dì Thìn sinh ‘ thằng Thìn. Năm Thìn 1928. Năm đó, dì Thìn đang có mang sau bảy tháng, Tây qua soát nhà. Hồi mẹ chửa con Xi, Ông Bang Tá Võ dẫn Tây qua soát nhà. Những năm có phong trào để tang Phan Chu Trinh 1926. Mẹ dấu ảnh ông trong cái ống đựng quyển đựng kế mực, chôn ngoài góc vườn ( kế góc vườn nhà bà Toan ). Chị Bảy sinh 1827,thì anh Tám sinh 1929.Tuổi Tỵ. Anh Chín, sinh năm 1931. Mẹ đi Tỉnh hầu quan Á, ở nhà dì Thìn cho ăn cơm nguội, thương thực, yểu vong. Thằng Thìn bụ bẫm lắm, mà dì Thìn không biết nuôi con, cũng chết yểu. Chị Mười tuổi Dâu, 1933. Anh mười Một sinh năm 1935, vô danh vô hiệu. Năm sau, sinh tôi, Bính Tý. Cậu tôi mát hồi 45 tuổi. Vậy là …1897+44 = 1941. Hồi đó tôi đã đi học An chuẩn …Vậy thì là năm hay sáu tuổi. 1936 + 5 = 1941. Đúng rồi. Ông Viên, sinh năm Mẹo… 1939. Hèn gì hồi tôi lên 5, còn được bú ké …lúc đã đi học.
Trường anh Bốn Thanh. Trường thầy giáo Hoà, học hè anh Tám kỹ 1942,Trường thầy giáo Tuyên, giáo Nguyên, học anh Sáu Quyên,1943…và lại Thầy Hoà rồi thì học Hè với anh Cần năm trước 1944, anh Hậu năm sau 1945 …Năm khỏi nghĩa, 1945, học lớp Ba, thầy Nguyên.
Giờ thì ráng nhớ đến …lúc mà cậu mẹ tôi làm suôi làm gia. Và các anh chị tôi lây vợ, lấy chồng sinh cháu cho tôi.
Chi Hai tôi sinh con đầu, tên là con Vân. Nó tuổi Tý, 1936. Năm 1939, chị sinh đứa nữa. Chưa có tên, đã mất. Hai anh chị được cậu mẹ tôi bảo về An mô, An chuẩn lập nghiệp. Chắc chắn là trong cái năm 1940. Năm sau cậu tôi mất, tháng chín, chi có mang và sinh thằng Trinh, bây giờ đó. Nó sinh năm 1941, tại cái nhà ngang, buồng đầu hồi mé Đông. Cái buồng mé Tây, kêu là buồng chị Nhuận . Tôi không nhớ có thấy chị Nhuận …làm dâu, ở buồng nào. Chỉ nhớ, một lần ra vọc nước ngoài đám muống, chị hưa sẽ về nhà chị …mang về cho tôi cái cuốc …tí teo. Lưỡi cuốc bằng lớn hơn bàn tay tôi một chút .

Published in: on October 9, 2009 at 4:31 am  Leave a Comment  

Lụt Giáp Thìn 1964

Bác Tường Dung
Sau cái năm lụt lớn một cách bất thình lình, năm Giáp thìn, dường như tôi không còn thiết đến việc về thăm nhà, thăm làng nữa.
Vả, mấy năm sau đó ở nhà quê, nhất là vùng quanh làng tôi, mất an ninh … tợn lắm.

Trước đó một vài năm, trước cái năm lụt lớn, bà con các làng ven biển, và kế cận như làng tôi đã khổ sở lắm.
Hết “chạy giặc tản cư”, lại “bình định hồi cư” . Hai bên, bên nào cũng “giành dân, giữ đất”.
Bà chị dâu tôi dã cho các cháu lên tỉnh để học Trung học. Riêng bà nấn ná ở lại với con heo con gà và vườn và ruộng.
Có lần bà nhắn trẻ nhỏ về ăn giỗ ông ngoại và giữ chúng ở lại. Chúng ở nhà thêm một vài ngày.
Biết chuyện về quê ăn giỗ, tôi gọi một đứa đến và hỏi vì sao đã không cho tôi biết để xin cáo lỗi ở trường.
— Mấy người dưới đó … Họ bảo mẹ cháu kêu tụi cháu về. Đừng cho đi học nưã.
— Mấy ngày ở dưới đó … tụi bây có đi chơi ở đâu nữa không ?
Nó ngần ngừ. Tôi hỏi tiếp:
— Sao có đứa … bảo có gặp tụi bây ở Nhà thờ Xóm Đạo ở Kỳ tân ?
— Bên Kỳ tân, người ta đồn có một ông ở ngoài Bắc về. Người ta nhắn cho mẹ cháu. Bà cho tụi cháu qua đó coi … cho biết thử … có thiệt không.
— Rồi sao nữa …
— . . . thấy toàn là du kích, nói tiếng Bình định (?) bủng rè bủng rẹt … đâu có thấy ai người lớn ngoài Bắc về đâu.

Vào cái năm lụt, năm Thìn (1964), khoản đầu tháng 11 (dương lịch), có mấy ngày nghỉ lễ. Lũ cháu tôi lại về nhà quê với mẹ. Trời mưa, nước lớn. Nghiã quân Dân vệ đóng cổng vi sớm. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Chiều hôm sau, có không biết bao nhiêu người làng chạy đến nhà để thăm, để hỏi :
“Bà Trị và ba đưá con bị nước lụt … ?
“Chết hết cả mấy mẹ con … ?
“Không có lý nào … như vậy. Tụi cháu nghe nói là tụi nó hồi sáng sớm … Nghe nói tụi nó đã đón ghe mà đi học rồi. Bất quá … chủ ghe họ … tấp vào đâu đó …
“Mấy đứa con cuả bà Trị … thấy nước sông lớn … chạy lên nhà Bác nó, mà bác nó đuổi về … Có có vậy không ?”
“ Mấy mẹ con bà ấy cột tay nhau, ngồi trên nóc nhà … Kêu cứu … Người ở xóm phiá dưới nghe tiếng kêu khóc … Thấy thì thấy đó … mà đành ngó theo đứt ruột …”
Những mẩu tin như vậy cứ tăng thêm, tăng thêm cái tính thiện, tính ác … vô tình hay cố ý tôi không còn muốn nghe thêm.

Tôi quyết định thuê cái đò nhỏ, cùng đi với một thằng cháu … về dưới làng. Tôi mang theo tiền bạc, và thức ăn khô, và thuốc rê, và vải nylon … đi mưa …. Tôi mang theo cả một niềm tin vu vơ vào một phép lạ …
Khi đến nơi, tôi biết chính xác rằng gia đình chị tôi đã lâm nạn, tôi gửi thằng cháu quá giang chiếc đò khác mà trở về Thị xã báo cho bà nội biết. Tôi ở lại.
Ngày hôm qua, cũng như hôm nay bà con chia chia nhau đi tìm. Khắp xóm dưới làng trên.
Có người thất vọng. Họ trở về … tay không. Họ khuyên phải đợi … phải đi xa hơn, đi dài ngày hơn. Có khi phải chờ … nửa tháng, một tháng …

Rồi thì tôi thấy Bác Tường Dung. Tay ông cầm ngang cây cây gậy (người nhà quê hay dùng để dò đường, mỗi khi lụt lội). Ông đang đi chẫm rãi vào nhà.
Tôi chợt nẩy ý hy vọng. Hoặc là mình sẽ được nghe ông giúp một ý kiến, một kinh nghiệm cũng nên.
Ông hỏi tôi:
— Cháu về bao giờ.
— Dạ … Cháu về hôm qua. Bây giờ, biết làm sao đây nữa, hả bác.
— Rủi vậy, chiụ vậy. Chớ biết làm sao.
Tôi thấy mình chưng hửng.
Tôi có một thoáng nghĩ đến ông anh tôi còn ở ngoài ấy, ngoài Bắc.
Ông bác tôi đang mặc chiếc áo len cổ cao. Đầu trùm chiếc khăn long lớn, một tua quẩn cổ, một tua thả thòng. Ông máng theo chiếc áo tơi bằng lá. Chân ông mang đôi giày bố nhà binh. Có cả bít tất len. Ông đến, ông vào rồi ngồi tại chiếc phản gõ đen dặt trong gian nhà giữa. Bà con thì ngồi xúm xít dứới đất, ngồi ở ngạch cửa bàn khoa. vì chân đầy bùn, áo quần có khi còn bị ướt.
Tôi chạy xuống nhà dưới. Thấy mấy bà đang lo làm cơm. Tất cả lầm lì không nói. Tôi xách ấp nước sôi lên nhà trên pha trà.
Nhiều nguời không thích uống trà … Tàu, tôi biết. Nhưng tôi vẫn cứ pha trà như một cử chỉ cung kinh, trọng vọng đối với tấm lòng cuả họ mấy hôm nay.
— Thôi, đủ rồi. Ví tui … ở đây từ hồi sang giờ. Xin kiếu.
— Cám ơn mấy chú, mấy anh em … Ngày mai, chắc nước (sông) nó rọt (rặt) bớt …
Tôi bỏ lửng câu nói, nhưng mọi người cũng hiểu là tôi còn mong đợi vào sư ân cần cuả họ nhiều ngày nữa …
Rồi bác cũng đứng lên, lấy cây gậy và xách chiếc áo tơi cùng tôi bước ra hàng hiên trước, nhìn người chòm xóm đi ra ngõ trước, ngõ sau nhà tôi.
— Ở trong nhà thì ấm hỉm. Ra ngoài, coi bộ lạnh dữ a.
Ông nói rõ lớn. Có lẽ nhiều người đang ra về còn nghe sự ưu ái cuả ông đối với họ. Rồi ông quay lại bảo với tôi :
— Nhà có cuả … như nhà chú thím Sĩ Hai … sướng thiệt. Thời nào … xưa nay, hễ nhà có việc … từ việc lớn chí việc nhỏ, bà con nông dân lại phải xúm nhau … mà lo. Bất kể mưa gió lụt lội … Bất kể chết.
Tôi nghe rõ từng lời, từng chữ.Và đã hiểu. Đã thấm nhuần. Tôi vờ như vì mệt mỏi, thẩn thờ ngái ngủ, có nghe như thể không nghe. Tôi nói bâng quơ :
— Mẹ cháu, nhất là chị hai, chị sáu cháu mấy bữa nay … còn mỗi thiếu điều chết … Bác ở lại chơi, chờ một chặm nữa anh Tám, anh Ba cháu về xem … may ra có tin gì may … không.
— (Qua) gặp mấy lão ấy rồi. Mấy lão … đi qua bên biển, thì qua về bên Yên mô. Sẵn có đò đưa … (Qua) phải về nhà bà ngoại nó, kẽo bà chờ … (về ăn) cơm.
— … bác về. Trời mưa gió lụt lội … Khổ quá …

Chị ba tôi gọi tôi lên nhà trên, nói nhỏ :
— Ba thằng Kính, biểu tui nói với chú … Chú liệu liệu rồi về cho mẹ biết chừng. Dưới này đã có chú Tám và Ba nó … Còn nước còn tát. Chú ăn … miếng cơm ? Tui bảo trẻ nhỏ nó dọn cơm chú ăn. Còn sớm. Ăn rồi đi cũng kịp. Sợ họ đóng cổng vi sớm.
— Khỏi ăn uống gì đi chị ba. Thôi để em đi …
Tôi ra bến sông. Cái đò tôi thuê sẵn chờ đó. Tôi bảo họ chiụ khó … xuôi theo dòng mà cho tui qua Thu xà. Tui về tỉnh bằng đường Thu xà coi bộ mau hơn.
Họ mừng như được cuả.

Độ một vài tháng sau người làng An chuẩn lại chạy tản cư. Có người gặp tôi, bảo nhỏ nhỏ :
— Lính ở quận về hành quân. Ông Tường làm Ban Tự quản, bị bắt vào quận rồi. Hai đứa con cuả ông một trai, và một gái, … cũng ở trong Ban Tự quản … bị thương. Nghe đâu … chừng cũng chết luôn rồi.
— Ối trời đất ! Tôi buộc mồm …

Trong chiến tranh, những tin tức như vậy phải nghe hằng ngày. Khi đúng, khi sai. Riết rồi cũng nhờn.
Riêng phần tôi, tôi ngao ngán. Chuyện làng, chuyện nước, chuyện gia đình, dòng tộc.
Rồi lại nghe bà con xầm xì :
Ông ấy vượt ngục … Lính nó bắn theo … Không biết là còn sống hay đã chết.

Thuả tôi còn nhỏ, nhiều lần tôi hỏi Ông bác về chuyện: Ông học chữ hán tới “nghe sách”, “từ hàn”. Rồi ông tự học chũ quốc ngữ. Ông chạy bộ theo bạn hàng cá lên tỉnh (?), để giờ thi bằng “tuyển sanh” thế nào. Tôi hỏi chuyện ông luyện tập võ nghệ như thế nào.
Tôi phục ông lắm. Ông nói ít . Và nói nhỏ nhẹ.
Với một chiếc đoản côn, ông đã đánh gục cả hàng trăm người. Tụi nó đuổi đánh ông ở một làng chài ở Mang rang, Mang rí.
Người ta đồn như vậy. Ông cũng xác nhận như vậy.
— Bữa nào bác rảnh, bác có thể chỉ cho cháu vài ngón đòn để phòng thân ?
— Không nên đâu. Khi người ta muốn đụng một anh tay ngang như cháu, cùng lắm là họ đi vài người. Cháu chạy thoát được. Chứ còn như khi họ muốn ăn thua với qua đây, họ đâu có chịu chơi tay trơn, họ dâu có đi một mình (êng) … Họ dẫn theo mười người, hai chục người, mình khó bề …
Tôi vẫn nhớ cái lời thâm thuý đó. Trong đời mình nhiều lần vượt các cơn khốn, nhờ không có lấy một nửa cái ngón, cái nghề cuả ông Bác …

Sau khi chiến tranh chấm dứt, ông anh tôi từ ngoài Hà nội về thăm tôi ở Sài gòn.
Ông bảo cho biết Tổ chức (Đảng) đã cho phép ông tục huyền, sau khi xác định rằng vợ con tại miền Nam không còn nữa. Bây giờ anh tôi có lại ba đứa con, hai trai và một gái … như hồi xưa.
Tôi hỏi :
— Những năm ở ngoài ấy, anh có hay gặp bác Tường Dung hay không ?
— Bác Tường Dung là ai vậy ?
— Bác là … là rễ ông Xã Bân … Tôi cố ý nói như vậy.
— Có chứ. Bấy giờ có phong trào tình nguyện đi “B“. Bác về trong này sớm lắm …
— Bác giỏi nghề đi thuyền trên biển. Thành phần nòng cốt … Nên được ưu tiên, được về trước phải không ?
— Thì vẫn vậy …
Ông anh tôi đáp nhát gừng. Rồi tiếp :
— Trước khi chia tay ở Hà nôi, hai bác cháu còn ngồi với nhau rất lâu, Trao đổi về tình hình, về tin tức gia đình … ở miền Nam …
— Cuối năm 1963 … em có về Yên mô, em gặp Bác … Được biết Bác đã bị bắt khi đang lấy muối cửa sông Lòng Sông, Tuy hoà. Bác bị tù. Rồi được ân xá. Bác về ở An chuẩn. It lâu thì xảy ra cái vụ lụt …
— … ngoài ấy có đầy đủ tin tức về các hoạt động đánh Mỹ cuả ông. Nhớ như là ông hy sinh … năm 65.
Ông anh tôi thấy tôi có vẻ tư lự xa xăm, ông hỏi :
— … thế em có gặp bác ấy à …
— Dạ có …
Tôi thẩn thờ. Ông hỏi :
— … có vấn đề gì chăng … ?
— … về một người như bác Tường Dung, em phải nói sao bây giờ … Bác chết rồi.
— … vì sao vậy … ?
Tôi thuật lại cái cảnh bà con trong làng trong xóm đã tỏ lòng ái truất đối với bà chị dâu tôi, với mấy đứa nhỏ.
Ông anh tôi có vẻ xúc động và muốn tiếp tục nghe tôi kể chuyện.
Tôi thuật lại cái lần tôi gặp Bác Tường Dung, tại nhà mình dưới quê. Tôi cố ý kéo dài một câu chuyện ngắn:
— … bác ngồi ở cái phản bên phiá trái, ở gian nhà giữa. Chiếc khăn lông quấn cổ, trùm đầu. Bác đặt cái gậy … lội lụt ở mé phản. Bác mang đôi giày bố nhà binh, có đôi tất len màu cứt ngựa, màu nhà binh. Tất dài, tất phủ tới đầu gối.
Bà con lối xóm thì kẻ đứng người ngồi dưới nền nhà xúm xít nhau. Ở nhà quê, nhằm những ngày mưa gió, lụt lội, ai cũng co ro cúm rúm … Họ mới đi lội sông lội biển mà tìm chị bốn và lũ nhỏ. Còn ướt, còn lạnh mà anh bốn, Bác Tường thì cụ bị nào áo ấm nào khăn quàng.
— Bác ấy … lúc nào cũng tươm tất …
— Bữa ấy, Bác ấy còn Nói Tiếng Tây nữa cơ …
Ông anh tôi thấy tôi hơi đổi sắc, biết là tôi sắp “ra đòn”, sắp “trỗ ngón” gì đây:
— Chú cứ nói tôi nghe … xem sao.
— Trong này, anh Ba và tụi em hay dùng (cụm từ) ” nói tiếng tây”. Nghe nói đến một điều khó nghe. Như hồi trước, thì “nói điếc tai”, “nghe điếc đít”.
Nói tiếngTây … Bác nói Tiếng tây !
Bác nói … Cứ y như cái hồi Đấu tố.
Hồi “Phóng tay …”
— ? …
— Bác nói :
Con cháu nhà điạ chủ … tới lúc chết cũng còn sướng hơn ai.
Còn được bà con chòm xóm “bất kể chết” đội mưa đạp gió mà đi tìm …
— … cái ông ấy … thì cứ là như thế. Thành cái tật …
— Cái tật … chi mà lạ … vậy !

Cái khoản không khí giữa chỗ hai anh em tôi ngồi bỗng như đặc cứng lại. Đạn B40 cũng không xuyên phá được.
Tôi nói tiếp:
— Hồi còn nhỏ mẹ dạy : khi đang ngồi ở giữa chỗ thập mục sở thị, rủi mà mình muốn ngáp, thì ráng ngậm miệng hít hơi cho qua cái loà.
Rủi hơn nữa, khi mình mót “trung tiện”, có người bảo hãy kín đáo lấy tay mà … vạch cái lổ đít …
Bác Tường Dung nhè cái lúc ấy mà phun … ra. Nghe như tiếng “phù …phù ” cuả loài rắn hổ gầm, hổ mang mà em chưa từng gặp …
Nghĩ cũng lạ. Tôi nói như đay nghiến :
— Chó, không ăn thịt … chó.
Ông anh tôi ráng ngậm mà nghe. Rồi, như thói-quen-lên-lớp, ông bổ túc cho sự hiểu biết thiếu hiện thưc xã hội về loài chó … cuả tôi:
— Trước Cánh mạng, người ta tin như vậy. Sau này, trên đường công tác, anh thấy nó … xực tất …
— … chó mà cũng thoái hoá đến thế sao. Có lẽ vì vậy mà kêu bằng mạt-máu-chó đó chăng ?.
— anh quên hỏi vì sao mà em hay gọi ông Tường là bác Tường Dung ?
— … để phân biệt với bác Tường Phương. Tuy một mà hai … Ổng Tường Dung đã thoát ly giai cấp. Cái giai cấp cuả ông đường bá … (huý Phương) khả ái, khả kính ngày xưa … Còn Dung ? Hình như là tên “công tác”, cái tên “Việt minh” mới có về sau.
— em dùng ba chữ mạt-máu-chó như định ám chỉ cái gì phải không ?
— hạ hồi phân giải, anh bốn ơi.

Mới đó mà đã là chuyện cuả hơn một phần tư thế kỷ, hơn một nửa thê kỷ. Trong họ nhà tôi đã có đến bảy nạn nhân, chết mất xác, mà tôi có biết.
Tôi sẽ ghi lại thế nào trong gia phả nhà mình, nếu phải có một gia phả như thế.
Tôi sẽ còn có dịp nào để kể cho con cháu nhà tôi nó biết được chuyện “Bác Tường Phương, Bác Tường Dung.”

Đây là cái dịp duy nhất, còn lại
Anh bốn tôi còn ở bên đó, và tôi còn ở bên đây.
Liễu Hạ thị
(6/1975 —- 6/2003)
————————–
Vài tu chính:
Năm ấy 1964, là Giáp Thìn, mà tôi nhớ lầm ra Canh thìn .
Trức, tôi viết: Đầu tháng 10 có mấy ngày lễ. Không sai, nhưng đó là tháng 10 Âm lịch (Giáp Thìn).Đã thuộc về tháng 11 dương lịch 1964 .Ngày 9 tháng 11 năm 1964.
“Đêm mồng sáu tháng mười, chú nhớ
“Lòng trời đen thấp xuống nước dâng cao
“Tiếng sóng mặt ghềnh muôn đời nức nở
“Ức vạn hằng hà sa số hư vô ”
Tôi nhớ đã ghi như thế. Có lẽ là vì cái tập tục cúng giỗ, thường ghi theo ngày Âm lịch.
Năm nay, hoàn thành bi ký là ngày 3 tháng 10, năm 2009 (rằm tháng Tám, Âm lịch.
Âm lich/Dương lịch
http://dactrung.net/phorum/tm.aspx?m=424612<ins datetime="2009-10-08T21:38:33+00:00

Published in: on October 8, 2009 at 9:12 pm  Leave a Comment  

Nguyễn Sau – phụng lập

Nhà nhiếp ảnh NNT [sic!], viết thư eMail cho tôi. (Kèm một số hình ảnh về việc lập cái bia tưởng niệm cho bà chị dâu và mấy đứa cháu …vô phúc xấu phần.)

Nhìn xuống thấy dòng chữ dưới chưn bia : Nguyễn Sau …bái lập, tôi vui quá.
Bác Bảo Học, là ông nhạc của anh Bốn tôi. Ông có hai bà vợ . Bà thứ nhứt không sinh được con trai nên bà đi cưới cho bác thêm một bà thứ thiếp. Bà nầy sinh cho Bác Bảo một cô gái, rồi một con trai. Người con trai đó, là Nguyễn Sau .
Nguyễn Sau là em cùng cha khác mẹ với chị Bốn. Nên thành ra là cậu của mấy cháu tôi, con anh Bốn tôi . Tôi là chú của tụi nhỏ .
Năm ngoái, 2008 hồi tháng ba, ông anh tôi mất …
Ông con trưởng của tôi muốn ‘phụng cúng’ cho Bác Bốn tấm bia mộ. Tôi cản :
— Chưa phải đợi đến con. Bên nhà đã có bác gái – kế thất của Bác, có các anh chị bên đó lo . Duy, bác Bốn gái và mấy anh chị mất hồi 1964 thì chưa có bia, có mộ …Cha đã suy nghĩ nhiều về cái chuyện nầy. Nay Bác Bốn qua đời rồi, chắc bác cũng chưa yên dưới suối vàng. Cha sẽ giữ và gửi số bạc mà con cúng bác về bên đó cho mấy anh …Cha sẽ dặn mấy anh tìm cậu Sau, tìm các anh Nguyễn Đăng Vũ, Trịnh Sâm …để bàn chuyện lập cái bia tưởng niệm cho Bác Bốn gái, và mấy anh chị …ấy.
Ông con trưởng cuả tôi nghe cha nói , ngẩng tò te …Dạ dạ …Dạ. Không hiểu đâu vào đâu cả mà mạ lia dạ lịa .

Hôm nay tôi vui, vì bà chị dâu rôi, và các cháu tôi được bà con bên nội bên ngoại – hai bên, bốn bề – lo toan chu đáo .
Xin chia niềm vui nhỏ cho đời.
Anmota

Published in: on October 8, 2009 at 8:47 pm  Leave a Comment  

Một vụ án …

Mấy năm trước đây, vô chơi trong dactrung.net, tôi góp vui bằng cách gõ một số chuyện . Chuyện là chuyện chơi, nhưng sau đó thành chuyện thiệt . Mấy người trong đó đem dán vào ‘kho Truyện ‘…Rồi thì, người ta đem dán những truyện chơi đó đi tùm lum nhiều nơi trên mạng , y như tôi đâu là ‘ tác giả, nhà văn thứ thiệt’ .
Gặp lại ‘văn mình vợ người’ nhiều khi muốn đào lỗ mà chui xuống cho khuất.
Gần đây, có vụ án …
Vụ án ” Dũng Trần Cừ ”
Tôi đã ‘ cho Dũng Trần Cừ chết …’ từ non 45 ( bốn mươi lăm ) năm rồi, từ hồi 1965 .
Giờ mới hay Dũng còn sống.
…chắc phải tìm cách cứu sống cho cái nhân vật trong truyện. Truyện ” Dũng Trần Cừ và chú Xã Mai” .
Tôi định bụng: hoặc giả là mình sẽ viết ” Hồi ký của Khanh …” để tạ tội với Dũng vậy.
Dũng còn sống, còn đang viết dở dang một hồi ký …
Không rõ là tôi có làm nổi cái việc nầy trước khi xuống lỗ hay không . Nhưng hứa .
Phải ráng giữ lời hứa …

Published in: on June 22, 2009 at 9:54 pm  Leave a Comment  

Cà Quánh.

Tôi có ba ông anh, có tên là Cà Na, Cà Quánh và Cà Quéo.
— Hồi mẹ có chửa ông cà na, không biết tại sao mẹ ghiền ăn mẻ vung đất…Ăn ngon lành. Dấu cái mẻ vung ‘bàu lát’ trong áo, vừa đi vừa cắn mà ăn. Thiệt hết xấu hết hổ.
Mẹ tôi hay kể như vậy. Bà còn kể:
— Hồi sinh ông cà quánh, bà mụ rà lưỡi móc miếng…thấy cợm. Bảo mẹ rà xem. Hóa ra có nhú cái răng cấm.
— thì sao?. Tôi hỏi dồn. Bà bảo:
— Mẹ bảo bà mụ dấu, đừng nói cho ai biết.
— Sao vậy?
— Thì hồi đó, người ta nói…mới lọt lòng mà có răng là nên bỏ đi, không nên nuôi. (Ý nói là quái thai)
— Sao mẹ dám nuôi…
— Mẹ lén biên thơ về hỏi ông Ngoại. Ông ngoại bảo …đứa bé đó nó mạnh khỏe, nó thông minh, nhưng lớn lên nó hay ở ngoài đường. Ít ưng ở nhà.
Không hiểu vì sao mà mẹ tôi hay nhắc đến những lời khuyên dạy của ông ngoại hơn là lời khuyên dạy của bà ngoại. Ông ngoại tôi là một nhà nho, và là một ông thầy thuốc.
— Còn ông cà quéo thì sao,mẹ nhớ không?
— anh năm con thì, hồi đó mẹ nhớ là cái thai nó không hành hạ gì. Bà mụ Mua móc miếng.Vậy nên con coi, anh năm mầy lầm lầm lì lì, ít nói. Cái tên cà quéo …chắc là do cậu đặt chơi cho vui . Quanh quẹọ, thì …quánh quéo.

Published in: on April 13, 2008 at 5:57 am  Leave a Comment  

anh Bốn: Cà Quánh.

Giờ này thì bà con đã liệm ông anh bốn tôi xong xuôi đâu đó.
Cái quan luận định.
Tôi có quyền luận định về ông anh Bốn tôi.
Từ nghìn trùng xa cách – anh ở Việt nam, tôi đang ở Mỹ – tôi ngồi đây mà nhớ mà thương.

Published in: on April 12, 2008 at 6:54 am  Leave a Comment  

Bác Bảo Học

Bác Bảo Học
Tên của bác phải là (Ông) Nguyễn Hiệp.Có lẽ bác giữ chức Bảo Hương trong làng. Có khi còn nghe gọi là ông Chấp Học.
Nhà của bác ở gần Dinh Xóm, xóm Tây. Chung quanh có các nhà của ông Thầy Sử, Ông Yên, ông Tuấn – cùng có họ Nguyễn, và là có liên hệ thúc bá,có nhà của ông xã Thoại- họ Đinh.
Tôi biết nhà bác Bảo Học lần đầu, có lẽ là vào năm 1941, cậu tôi còn sống. Tôi được bưng cái ‘bình điếu ( hút thuốc lào, cẩn xa cừ, có gọng ….trúc thắt cong vòng) đi theo chân cậu tôi đến nhà Bác Bảo. Hôm có đám nói (đám hỏi).Cậu mẹ tôi làm lễ hỏi vợ cho anh Bốn tôi. Vợ anh là chị Chín Mỹ…Anh là anh Bốn Cà Quánh.
( Tôi viết mấy dòng này sau khi nghe tin từ bên nhà báo: Anh bốn tôi qua đời hồi Mườii Một giờ kém Mười lăm, đêm thứ Năm, ngày Mồng Năm tháng Ba Âm Mậu Tý, 10 tháng 4 năm 2008)

Published in: on April 11, 2008 at 5:42 pm  Comments (1)  

Thợ Chinh, lầu Cổ.

Cậu mẹ tôi hay nhờ bác thợ Chinh làm nhà sửa nhà thì phải.Tôi chỉ nghe mà chưa hề thấy. Ông người …bên Đại bình, bên Ngã Bảy. Người Yên mô, mà cũng là người Đại Bình.Mẹ tôi bảo vậy. Tôi nghe và nhớ như vậy. Về sau này tôi hiểu vì sao lại có chuyện lạ.
Hôm nọ, có lẽ là còn thuộc về năm 1941 hai chị em tôi đi học ở An chuẩn vê tới quá cái ngỏ đình thì thấy cậu tôi đi ớ phía trước. Ông mặc áo dài, tay cầm dù.
Hai đứa tự nhiên vui hằn ra. Chúng tôi chạy nhanh cho kịp rồi bíu vào hai chéo áo dài …nhảy tưng tưng. Tôi chưa hề thấy cậu tôi xuống đình, xuống chỗ làm đình.
— Cậu đi đâu về vậy…
— Xuống đình. Làng mời cậu xuống…
Mẹ tôi về sau kể lại chuyện ‘cậu xuống đình’ để cứu cho bác thợ Chinh…
— Cái lầu chuông hay lầu trống nó bị nghiêng . Móng lún. Làng đòi đóng gông ông thợ Chinh. Ổng là thợ cả.
— …
— Một là phải giở hết xuống, nện móng lai, xây lại Thợ chinh có nước bán nhà…Hai là phải xây sao cho kịp khánh thành…
Cậu xuống đình để bày cách cho ông Chinh cứu cái lầu cổ, lầu treo trống…
— Cứu …được không vậy mẹ? Cứu cách sao?
— Cái đó có hỏi cậu mới biết.Hồi đó, cậu cứu được, lâu rồi mà.
Bà cười héo hon. Bấy giờ cậu tôi mất rồi.

Khi tôi đã lớn, lúc thấy anh Ba tôi làm móng xây nhà tôi hỏi:
— Hồi ông thợ Chinh xây cái lầu cổ bị nghiêng…Anh biết không anh Ba?
Ý tôi muốn nhắc anh Ba tôi về cái kinh nghiệm ‘thợ Chinh suýt bị mang gông’.
— nghe ông Chinh nhắc chuyện đó mỗi lần ông qua nhà mình ăn giỗ cậu. May mà hồi đó cậu còn…
Anh Ba tôi thuật lại các cái mẹo ‘gia cố móng nhà mỗi khi bị lún’…
— Không biết ai bày mà cậu biết dùng cọc tre tươi đóng xuống đất thật sâu cho đất chặt lại bên phía bị lún…Rồi cho đóng nhưng cây cọc xiên sát chân móng…Vách không xuống nữa là nhờ mấy cây cọc xiên đó nó cấn, nó chận lại…Bên phía kia thi vét sâu thêm, tháo nước vào đầt mềm hơn…Thợ mình hồi xưa thiếu kinh nghiệm làm móng cho kiên cố …Bây giờ, có săt,có sõi… có xi măng…Thợ thầy bây giờ họ văn minh hơn, đỡ lo.

Published in: on March 23, 2008 at 7:26 pm  Leave a Comment  

Cái bánh Ít của làng

Vườn đình rộng lắm. Dễ thường đến non hai mẫu ta.Phân đất dành cho Chùa nhỏ hơn. Năm này Chùa cũng được làm mới lai. Chùa nhỏ hơn, và nằm lùi xa hơn về phía sau so với đình.
Vào những năm này có anh Điện làm ông Từ. Ông Từ Điện.Thằng Tá chỉ cho tôi biết nhà ông Từ, tên ông Điện. Cái gì nó cũng biết hết.
Trước chùa có dụng cái trại tạm bằng tranh tre. Trong đó có mầy bộ ván ngựa, nó cả vài ba dãy ‘trường kỷ’ cũng bằng tre cây khép lại: làm bàn để bày biện thức ăn, làm ghế dài cho trùm trửng, thợ thầy mỗi khi cần nhóm họp. Tôi không nhớ chắc mấy.
Thằng Tá được ai đó gọi vào . Nó vào một mình. Tôi đứng bên ngoài, nép người sau lưng mấy người lớn nhìn vào. Mấy ông làng cho nó bánh. nó mở cặp sách ra mà đựng. Nó có cái cặp tắp bồi bằng giấy lộn, giấy tây và giấy bổi …
Có một ông già,có râu mép, râu cằm đen và dài.Ông ngồi trên phản giữa. Đầu đội khăn đóng..Mặt ông đang đỏ lưỡng, nói cười oang oang chỉ tay ra sân chỗ có tôi đứng:
— Vô đây bác biểu… Thằng này con anh Hàng hả. Giống như đúc…
Ông với tay qua cái trường kỷ bằng tre, lấy một cái bánh ít…Tôi lo lắng lắm.
— … tới nhà ai không bà con quen biết, thầy họ ăn họ uống thì đi tránh …Đừng có đứng xớ rớ ‘chờ ăn chực’…
Bà nội tôi, mẹ tôi, các anh chị tôi đã truyền dạy như thế.
Giọng nói của ông có uy lắm. Tôi ríu ríu đi vào…nhận cái bánh ít.
— Ăn đi cháu…Đi học về, đói bụng …Ăn đi…
Mình phải ăn ngay.Chớ có đem về. Cậu hay, mẹ biết thì chết .
Lần đầu tiên, và là lần duy nhất, tôi được ăn bánh tại đình làng.
Người cho tôi bánh đó là bác Bảo Học.

Published in: on March 23, 2008 at 7:01 pm  Leave a Comment  

Thằng bé lên năm …

và chuyện cái đình.
Cuối năm 1940, cậu tôi còn tại thế. Tôi mới lên năm và đang đi học tại trường An chuẩn. Thầy giáo Phan Hòa ghi tên tôi là Mười Hai, lớp Đồng ấu. Học được bao lâu thì tôi không nhớ. Chỉ nhớ khi ở An mô có thầy giáo Nghuyễn Tuyên về dạy,tại nhà nhóm dinh xóm Đông thì học trò học lớp một, lớp hai ở An chuẩn phải về cho đủ số học sinh tối thiểu (30/40?).
Chị Mười tôi, sinh năm 1933 học lớp dự bị(hai). Anh Tám tôi sinh năm 1929, học lớp Sơ đẳng (ba).Bạn lớp ba của anh tôi nhớ có các anh Côn,cháu ông cả Mô, anh Cù, con ông Bổn Bốn (có anh Hạng nữa chăng?) , An mô.An chuẩn thì có các anh Kỉnh, chị Mực, anh Diêu, anh Thọ …
Mỗi buổi chiều đi học về,’thằng Tá’ …con ông Cửu Bộ cho tôi theo vào coi ‘họ làm đình’. Nó cho theo thì tôi mới dám. vài ba năm trước, mỗi mùa chích ngừa tôi bị bồng xuống đình để ‘trồng trái’…Sợ ông cọp trên bức bình phong, sợ ông ‘quan -thầy thông’ (y tá bên Vạn , trên tỉnh về?), lần nào cũng khóc, dỗ không nín.
Tôi nhừ thằng tá lắm. Nó chỉ cho tôi biết đâu là ‘cái đình’, đâu là cái ‘tẩm’. đâu là cái chùa …sẽ làm sau. Nó dẫn tôi di xin xi măng về nắn bi. Thợ hồ cho nó cả gói hốt lén trong bao còn đầy.Tôi cũng được nó bày cho là giủ các cái bao …để mót xi măng còn sót sỉnh ở hai góc. dư sức nắn vái hòn bi nhỏ. Nó có bảng gỗ viết phấn, có các cây thước gạch dòng bằng gỗ trắc…Thước đôi, thước chiếc, thước …nửa. Thước đôi, nó đem biếu thầy Hòa.Thầy gõ bàn, gõ bảng ra lệnh cho học trò giữ yên lặng.Thầy dùng thước đôi khẻ bàn tay, khẻ ngón tay học trò…
Thấy thằng Tá có đủ thứ,tôi ham lắm. Nhưng biết làm sao. Cậu tôi là dân ngụ cư. Cha nó là ông Cửu bộ…

Có lẽ đình An mô khởi công trong năm 1940, và còn kéo dài sang 1942 mới khánh thành.
Cậu tôi mất vào tháng chín Âm lịch năm 1941.

Cái bánh Ít của làng.

Published in: on March 23, 2008 at 6:38 am  Leave a Comment